Báo cáo nghiên cứu quy hoạch thị trường Chứng thực Chữ ký số công cộng

Quy hoạch thị trường là công việc quan trọng và không thể thiếu trong mỗi lĩnh vực. Thị trường dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, việc quy hoạch là rất cần thiết và cấp bách để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường, giúp thúc đẩy mảng giao dịch điện tử ở Việt Nam phát triển hơn nữa.

Như chúng ta đã biết, thị trường Chứng thực Chữ ký số công cộng ở Việt Nam bắt đầu hình thành từ năm 2009, sau 10 năm tồn tại và phát triển đã giúp thúc đẩy ứng dụng giao dịch điện tử trong một số ngành nghề, lĩnh vực như: Giao dịch điển tử trong lĩnh vực Thuế, lĩnh vực BHXH… Tuy nhiên cho đến nay, thị trường chứng thực chữ ký số cho thấy vẫn tồn tại nhiều bất cập như: Chưa khai thác được hết tiềm năng của thị trường để thúc đẩy giao dịch điện tử một cách rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực, nghành nghề; khả năng cung của thị trường đang cao hơn cầu nhiều lần dẫn đến mất cân đối thị trường, nảy sinh một số hệ lụy như: cạnh tranh không lành mạnh, chất lượng dịch vụ chưa thực sự tốt, chưa đảm bảo quyền lợi cho khách hàng….

Do các bất cập nêu trên, CLB Chữ ký số và giao dịch điện tử Việt Nam (VCDC) đã có nghiên cứu về thị trường CA ở Việt Nam, đồng thời có một số đề xuất về quy hoạch thị trường với mục đích thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường Chứng thực Chữ ký số công cộng ở Việt Nam như sau:

1. Nhu cầu về Dịch vụ Chứng thực Chữ ký số công cộng ở Việt Nam

Theo số liệu báo cáo của NEAC, dịch vụ CA ở Việt Nam hiện nay cung cấp chủ yếu cho các Doanh nghiệp sử dụng trong các hoạt động Kê khai thuế điện tử, Bảo hiểm xã hội điện tử, với số lượng 648 nghìn Doanh nghiệp. Lượng doanh nghiệp này đang ổn định trong vài năm trở lại đây, số lượng doanh nghiệp tăng lên không nhiều (do tỉ lệ thành lập mới và giải thể là tương đương).

Mặc dù nhà nước đang có chủ trương triển khai mở rộng các dịch vụ công trực tuyến, tuy nhiên hầu hết các đơn vị sử dụng dịch vụ công trực tuyến cũng đã có Chữ ký số kê khai BHXH điện tử hoặc kê khai Thuế để giao dịch, không có nhu cầu sử dụng thêm Chữ ký số.

Thị trường Chứng thư số cho cá nhân chưa được phát triển, do chưa có chính sách thúc đẩy cũng như chưa có hành lang pháp lý.

2. Thực trạng Dịch vụ Chứng thực Chữ ký số công cộng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tính đến hiện nay có 13 đơn vị CA Công cộng đã cung cấp dịch vụ bao gồm: Viettel, VNPT, FPT, Bkav, CA2, VINA CA, NewCA, SafeCA, EFY CA, TrurstCA, MISA-CA, NC-CA, LCS-CA. Các đơn vị này cùng nhau chia sẻ thị trường 648 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động.

Theo thống kê của NEAC hiện nay có khoảng 1 triệu Chứng thư số đang hoạt động, như vậy mỗi CA đang cung cấp khoảng 76 nghìn Chứng thư số ra thị trường.

Giá dịch vụ cung cấp đến người sử dụng hiện tại khoảng 600,000/ 1 năm, sau khi trừ  chi phí bán hàng các đơn vị CA thu được 327,000/ 1 năm.

Số liệu bảng bên dưới được tổng hợp trung bình từ tình  hình kinh doanh thực tế của  các đơn vị CA công cộng ở Việt Nam tính đến tháng 12/2019.

Với các CA đã tham gia thị trường đủ lâu, VCDC có tổng hợp tình hình kinh doanh  thực tế và lấy ra số liệu trung bình như bảng bên dưới: mỗi CA đang duy trì khoảng 76000 Thuê bao, hàng năm số lượng thuê bao hết hạn và gia hạn dịch vụ khoảng 30,000; số lượng thuê bao tăng mới của mỗi CA khoảng 8,000; chi phí khấu hao hệ thống mỗi năm khoảng 3 tỷ đồng; để duy trì dịch vụ cho khách hàng mõi năm các CA phải tốn một khoản chi phí khoảng 5 tỷ đồng. Như vậy tổng doanh thu hàng năm mỗi CA thu được khoảng hơn 12,426,000,000, sau khi trừ đi chi phí mỗi năm một đơn  vị CA đang có khoản lợi nhuận 1.426.000.000, bình quân mỗi tháng một đơn vị với Quy mô hàng trăm nhân sự thu về lợi nhuận khoảng 100 triệu, đây là một con số khiêm tốn so với chi phí đầu tư khoảng 20 – 30 tỷ đã bỏ ra ban đầu.

Số lượng Thuê bao đang duy trì

76000

Số lượng Thuê bao gia hạn dịch vụ hàng năm

30,000

Số lượng Thuê bao cấp mới dịch vụ

8,000

Giá trung bình/ Thuê bao/ Năm

327,000

Chi phí khấu hao hệ thống

3,000,000,000

Chi phí R&D, chi phí bảo hiểm bảo lãnh, phí 305…

3,000,000,000

Chi phí hỗ trợ sau bán hàng

5,000,000,000

Tổng doanh thu

12,426,000,000

Lợi nhuận

1.426.000.000

Bảng 1: Doanh thu, lợi nhuận của một đơn vị CA đã hoạt động được 6 đến 8 năm

Đối với các đơn vị CA mới thành lập, VCDC thống kê doanh thu và chi phí trong vòng 5 năm: với một CA mới thành lập chi phí đầu tư ban đầu sẽ giao động trong khoảng 15 đến 20 tỷ, các chi phí và doanh thu hàng năm trong bảng bên dưới. Như vậy với một đơn vị CA mới thành lập cần hoạt động ít nhất 5 năm mới bắt đầu có lợi nhuận, trong khi chi phí ban đầu bỏ ra rất lớn.

Nội dung Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5

Chi phí đầu tư hệ thống ban đầu

15,000,000,000
 Chi phí khấu hao hệ thống R&D, BH, Phí 305 ... hàng năm 3,000,000,000 3,000,000,000 3,000,000,000 3,000,000,000 3,000,000,000

Số lượng thuê bao gia hạn dịch vụ

1,200 2,400 6,000 9,600

Số lượng Thuê bao cấp mới dịch vụ

8,000 8,000 8,000 8,000 8,000

Giá trung bình Thuê bao/năm

327,000 327,000 327,000 327,000 327,000

Chi phí hỗ trợ sau bàn hàng

500,000,000 750,000,000 1,000,000,000 2,000,000,000 2,500,000,000

Tổng doanh thu

2,616,000,000 3,008,400,000 3,400,800,000 4,578,000,000 5,755,200,000
  Lợi nhuận/Lỗ (884,000,000) (741,600,000) (599,200,000) (422,000,000) 255,200,000

Bảng 2: Doanh thu, lợi nhuận của một đơn vị CA mới thành lập trong vòng 5 năm

 

3. Phân tích thị trường Chữ ký số ở một số Quốc gia trên thế giới

VCDC có khảo sát thị trường CA một số Quốc gia khác ở Châu Á để có sự so sánh tương quan với thị trường ở Việt Nam

Quốc gia Số đơn vị CA

Số thuê bao (Đơn vị triệu)

Đài Loan 7 4
Hàn Quốc 5 37
Malaysia 4 10
Việt Nam 13 1

 

Bảng 3: Bảng so sánh số liệu thị trường CA ở một số Quốc gia Châu Á


Bảng 

Biểu đồ 1: Biểu đồ so sánh tương quan giữa số đơn vị CA và số Thuê bao tương ứng của một số Quốc gia Châu Á

Với số liệu trên chúng ta thấy rằng năng lực của mỗi CA trên Thế giới sẽ phải cấp phát và duy trì hoạt động được khoảng 3.1 triệu Thuê bao, đặc biệt có Hàn Quốc mỗi CA cấp phát và duy trì hoạt động cho khoảng 7.4 triệu thuê bao, thấp nhất là Việt Nam mỗi CA hiện chỉ cấp phát và duy trì hoạt động cho khoảng 0.11 triệu thuê bao.

Quốc gia Số đơn vị CA

Số thuê bao

(Đơn vị triệu)

Số thuê bao/1 CA
Hàn Quốc 4 37 7.4
Malaysia 5 10 2.5
Đài Loan 7 4 0.57
Việt Nam 13 1 0.07


Bảng 4
: Bảng so sánh số Thuê bao Trung bình mỗi CA quản lý của các Quốc gia

Biểu đồ 2: Biểu đồ so sánh tương quan số Thuê bao Trung bình mỗi CA quản lý của các Quốc gia

4. Kết luận

Từ các số liệu ở trên, VCDC thấy rằng:

  • Số Thuê bao Chữ ký số ở Việt Nam quá thấp so với tiềm năng. Thị trường Chứng thực Chữ ký số công cộng ở Việt Nam hiện tại còn rất nhiều tiềm năng, chúng ta mới chỉ khai thác ở mảng Doanh nghiệp, phục vụ chủ yếu cho các giao dịch Thuế và BHXH điện tử. Thị trường Chứng thực Chữ ký số công cộng cho cá nhân giao dịch Ngân hàng, Chứng khoán, Thuế Thu nhập cá nhân… vẫn còn bỏ ngỏ, chưa có hành lang pháp lý để thúc đẩy.
  • Hiện tại mỗi CA ở Việt Nam đang chỉ cung cấp và duy trì hoạt động cho khoảng 100 nghìn Thuê bao, so với mặt bằng chung trên Thế giới thì khả năng Cung ở Việt Nam đang lớn hơn cầu rất nhiều, do vậy thị trường đang bị mất cân đối.
  • VCDC đã có những khảo sát thực tế, thấy hệ lụy của việc mất cân đối thị trường khá rõ ràng:
    • Khả năng cung cấp dịch vụ cao hơn nhu cầu, dẫn đến việc cạnh tranh quá mức cần thiết dẫn đến giảm giá, chạy đua để có lợi, bỏ qua một số khâu như Hồ sơ, Giấy tờ đồng thời lừa đảo mạo danh xảy ra, trung bình mỗi tháng các đơn vị CA nhận được 3465 phản ánh của khách hàng về việc nhận được email, điện thoại lừa đảo, mạo danh để bán Chữ ký số, đây là một con số rất đáng báo động, đặc biệt trong một lĩnh vực cần sự đảm bảo và uy tín cao như dịch vụ Chứng thực Chữ ký số công cộng.
    • Việc quản lý của cơ quan nhà nước gặp khó khăn
    • Lãng phí nguồn lực của xã hội: chi phí đầu tư để cung cấp dịch vụ của các đơn vị CA, chi phí quản lý của nhà nước...
    • Từ những vấn đề trên sẽ dẫn đến mất tính bền vững của thị trường và Quyền lợi của Khách hàng không được đảm bảo (ví dụ: việc nhà cung cấp CKCA bị ngừng cấp phép do không đảm bảo duy trì hệ thống, các Thuê bao sẽ bị ảnh hưởng).
    • Đặc biệt, từ những vấn đề trên kéo theo uy tín của Root CA ở Việt Nam bị ảnh hưởng, không được tin tưởng trên thị trường Quốc tế

Với các vấn đề như trên, VCDC đề xuất một số nội dung sau:

  • Do thị trường Chữ ký số cho Doanh nghiệp hiện nay đã bão hòa, do vậy chúng tôi đề xuất Quý Trung tâm khi cấp phép mới, nên chỉ cấp phép triển khai mảng Chữ ký số cá nhân (hiện nay thị trường Chữ ký số cá nhân vẫn còn rất nhiều tiềm năng chưa được khai thác).
  • Với mảng Chữ ký số cho Doanh nghiệp chỉ cấp phép thêm cho các CA khi thị trường đủ lớn (có thêm nhiều Doanh nghiệp hoạt động

Theo VCDC